GIÁO SƯ TIẾN SĨ BÙI QUỐC CHÂU

Sách: Kỷ Yếu 35 năm Diện Chẩn, xuất bản 2015 (Tiếp theo)

Bài trích từ sách ‘KỶ YẾU 35 NĂM DIỆN CHẨN- ĐIẾU KHIỂN LIỆU PHÁP (1980-2015):

HỒI ỨC VỀ CON ĐƯỜNG NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN DIỆN CHẨN CỦA BA TÔI

*Lương y Bùi Minh Tâm

DSC02282

Thấm thoát thời gian trôi qua được 35 năm, kể từ năm 1980. Ký ức của tôi quay trở lại thuở xa xưa, không biết phải năm đó là năm 1980 hay không, chỉ nhớ là năm tôi đã bắt đầu ý thức được cuộc sống xung quanh. Tôi nhớ hay chạy tới chạy lui giỡn chơi trong căn nhà của ông ngoại ở khu chợ ông Địa và hình ảnh Ba tôi ngồi nghiên cứu gì đó trên cái gác gỗ với cả đống sách xung quanh.

Bây giờ tôi khẳng định thời điểm đó là năm 1980, vì tôi nhớ lại lúc Luân, em tôi được sinh ra, bị đi tước và phọt 1 phát vào mặt Ba lúc Mẹ giở chân thằng nhóc lên để vệ sinh làm cả nhà mắc cười. Ông ngoại thì hay lấy giấy đốt quơ quơ phía trên thằng Luân khi nó khóc đêm.

Tôi trải qua tuổi ấu thơ ở nhà ngoại cùng với các dì, dì Liên, và dì Loan em của Mẹ. Dì Liên thỉnh thoảng chở tôi đi chơi về khuya bị Ba Mẹ cằn nhằn sao đi khuya quá vậy. Buổi sáng Ba mẹ đều lấy xe đạp đi làm, Ba đi chiếc xe đạp sườn ngang, Mẹ đi xe đạp bình thường, sáng đi, chiều về. Tôi nhớ nhất trước khi đi làm Mẹ xếp cho tôi cả chục chiếc thuyền giấy bỏ vô chậu nước cho tôi chơi, chơi một chút thì tụi nó chìm hết, về sau chơi thuyền tưởng tượng trên bàn cho khỏi chìm. Thỉnh thoảng Ba và dì Liên cũng xếp máy bay nữa.

Lớn hơn một chút, chắc thời điểm 1983, tôi được Ba chở vô chỗ làm việc trên cái ghế dành cho trẻ em được bắt vô cái sườn xe ở đằng trước. Tôi nhớ Ba đạp xe lên một cái cầu mà bây giờ tôi biết đó là cầu Bình Triệu, lúc đó với trí óc tuổi thơ của tôi, cái cầu Bình Triệu to khinh khủng, gió thổi lồng lộng, cảm giác như đi lên cầu Phú Mỹ bây giờ. Có khi Ba đạp một mạch qua cầu, có khi phải nhảy xuống dẫn bộ vì nó cao quá Ba đạp lên không nổi, lúc đó Ba tôi ốm như cây tăm vậy. Tôi nhớ còn nhìn xuống tấm sắt đục lổ như miếng lưới trên đỉnh cái cầu và thấy sợ vì thấy dòng sông chảy cuồn cuộn bên dưới, tôi hỏi cái tấm sắt đó làm chi vậy Ba, Ba tôi nói người ta tháo nó ra để tàu lớn chạy qua không bị vướng cái cầu. Cuối cùng cũng vượt qua được cái cầu, khoái nhất lúc xuống đốc gió thổi vù vù mát rượi, Ba chạy xuống tới chỗ nhà thờ bên trái (nhà thờ Fatima) thì quẹo trái vô Trường Cai xì ke ma túy Bình Triệu. Ba có giới thiệu tôi với những người trong đó, trong đó tôi nhớ có chú Kim, xem như người học trò Diện Chẩn đầu tiên của Ba trong lúc còn đang hoàn chỉnh huyệt trên mặt.

Cũng trong thời gian này Ba tập cho tôi búng mấy cái kim nhỏ xíu vô cái gối nhỏ xíu do Mẹ may bằng vải carô có sọc ngang dọc để định vị, tôi tập búng kim vô các đường giao nhau, nói chung cũng dễ dàng.

Bẵng đi một thời gian sống với ông bà ngoại thì gia đình tôi dọn nhà qua 19bis Duy Tân (sau này đổi tên đường là Phạm Ngọc Thạch) bằng 1 chiếc xe Ford, có lần tới nhà ông ngoại là chết máy do thiếu nước làm mát, phải nhờ ông ngoại vô lấy nước sôi đổ thêm vô .

Qua nhà mới to và rộng hơn nhà cũ rất nhiều, có cái sân phía trước anh em tôi tha hồ chạy lòng vòng, nhớ lúc mới vô cái cửa chưa có khóa phải lấy dây cột và chặn lại bằng cái ghế.

Trong sân có cái thùng làm nước mắm khổng lồ, cuối sân có cây khế rất ngọt, cánh cổng màu xanh lá cây, to và nặng, phía dưới ngang chân có một lỗ đạn bắn xiên, theo lời các chú bảo vệ xung quanh thì bắn ăn trộm chạy vô nhà thời người chủ trước đây.

Sát vách bên trái là nhà ông Mai Chí Thọ, rộng kinh khủng, nghe nói của hãng Shell hồi xưa, sau khi Ông Mai Chí Thọ về hưu thì chuyển xuống cách đó mấy căn. Chỗ đó được trường RMIT thuê lại.

Sát vách bên phải là trụ sở báo Tạp chí Cộng Sản. Có lần chú tài xế de xe mạnh quá làm sập cả cánh cổng vào sáng sớm làm tôi tưởng động đất.

Con đường Phạm Ngọc Thạch mát rượi với 2 hàng cây me, trái me rơi rụng nhiều vô số kể và rất ngọt, nhớ lại còn ứa nước miếng.

Quay trở lại thời điểm dọn nhà. Ban đầu thì đồ đạc chất ngổn ngang, bàn ghế lỏng chỏng. Nhớ là sau đó bên Thành ủy có cấp cho bàn ghế để Ba dạy học và chữa bệnh.

Thành ủy cấp hay bán rẻ cho Ba 1 chiếc xe Honda Dame để đi.

Lúc đó có bác Rỉ đến phụ Ba vẽ các đồ hình huyệt.

Hồi đó có chị Hà con bác Tư ngôn xuống học Diện Chẩn và chăm sóc tụi tôi dùm.

Mọi thứ ổn định dần, Ba chữa bệnh cho mọi người.

Ban đầu Ba chữa lai rai, sau thì có các cô chú học trò phụ với Ba như chú Hình Ích Viễn, chú Bửu, bác Khánh, Bà An, chú Minh, bác Hoàng Chu, cô Mai, bác Phương, cô Hết, chú Nam và một số cô chú bác mình không nhớ tên.

Bệnh nhân rất đông, có khi lên tới 500 người, ngồi chật cả nhà, từ sáng tới chiều tối.

Thỉnh thoảng tôi đi với Ba đưa học viên vô Sở thú để học Diện Chẩn và tập Âm Dương khí công.

Ba dạy Diện Chẩn ở nhà 19b Duy Tân và ở nhà Hữu Nghị Việt Xô trên đường Lê Duẩn, lúc đó nghe Ba nói khoảng hơn 900 học viên, Ba có cho tôi và một đứa con của cô Tố Lan, nhà cũng ở trên đường Duy Tân, bạn đó tên Minh Trí cũng giống tên em trai tôi, lên bục giảng để biểu diễn ấn huyệt.

Lúc đó lớp học ở 19b Duy Tân là học ngày Chủ Nhật, kéo dài 3 tháng vì những ngày trong tuần Ba mắc chữa bệnh.

Một thời gian sau thì Ba bỏ kim, thay bằng cách chế ra các dụng cụ để chữa bệnh vì Ba muốn phổ biến rộng rãi hơn cho quần chúng, giúp ích được nhiều người hơn.

Dụng cụ ban đầu nhìn rất thô sơ như cây que dò huyệt bằng sợi thủy tinh kéo dài ra, cây lăn có trục lăn 5 khía giống hình trái khế trong sân nhà, v.v…

Gần như song song thời điểm với việc bỏ kim, Ba phát triển Diện Chẩn ra khắp toàn thân chứ không tập trung ở mặt như lúc đầu.

Trong giai đoạn đó, có một vài sự kiện tôi nhớ được là lúc giữa đêm, ông Nguyễn Duy Cần đến nhờ Ba cấp cứu cho vợ.

Ông Mai Chí Thọ đi Nhật đem về tặng cho Ba cái máy chụp hình Pentax MX và cái máy châm cứu bằng điện rất thú vị để thí nghiệm.

Ba chữa bệnh cho ông bệnh nhân làm ở lãnh sự quán người Bulgari, về sau ổng bớt bệnh có đem tặng Ba 1 giỏ trái nho Bulgari màu xanh ngọc, trái dài dài ngọt lịm không hột, đối với tôi lúc đó trái nho đó ngon nhất trên đời. Ông còn cho tôi vài chai dầu thơm nhỏ nhỏ có mùa hoa hồng. Ông còn chở gia đình đi Vũng Tàu chơi, bị mấy xe khách ép ổng phải thắng gấp, ổng chửi lầm bầm bằng tiếng Bulgari.

Về kỷ niệm Vũng Tàu, không nhớ rõ thời điểm nào, nhưng nhớ Ba có dẫn gia đình đi chơi hình như 1 tuần, ở nhà ông Huỳnh Việt Thắng, ở đó Ba soạn sách Diện Chẩn – Điều Khiển Liệu Pháp (hồi xưa in bìa màu xanh nên gọi tắt là sách xanh), còn bây giờ in bìa màu cam. Ba soạn rất nhiều tài liệu bày ra trên một cái bàn họp dài rồi soạn.

Hồi đó nhớ ông Huỳnh Việt Thắng hay chở Ba đi trên chiếc Mercedes, hoặc chiếc Volga.

Có lần đi với ông Năm Hộ xuống Kiên Giang để dạy Diện Chẩn, đó là 1 kỷ niệm khó quên vì đi xuyên đêm, giữa đêm anh tài xế buồn ngủ nên tấp vô lề đường trải áo mưa ngủ, rất thú vị. Xuống dưới đó lần đầu tiên tôi được đi ghe, nước mấp mé mạn thuyền nhìn rất sợ.

Ba chữa bệnh cho cô diễn viên múa người Canada, qua Việt Nam múa giao lưu văn hóa giữa 2 nước, mà bị đau đầu gối không múa được, bên Ban Văn hóa rất sợ nên đến nhờ Ba chữa bệnh dùm, Ba đi chữa cho cô ta cả ngày tới chiều mới về và nói Ba tìm sinh huyệt khắp nơi không hết, cuối cùng tìm sinh huyệt đầu gối ở lỗ tai mới hết, và cô đó nhận Ba làm anh kết nghĩa. Tối đó cô diễn bình thường.

Rồi Ba được mời đi Liên Xô chữa bệnh và dạy học, Ba đi với dượng Ba Lộc, sau đó cử chú Tạ Minh đi làm nòng cốt ở đó một thời gian.

Ba được chủ tịch nước Lào mời qua dạy.

Ba đi Cuba để phát triển Diện Chẩn là lâu nhất, tới 6 tháng, về thì đã mập ra chứ không còn ốm tong teo như trước. Từ đó tròn trịa lên luôn đến giờ.

Trong thời gian phát triển Diện Chẩn, thường hay có chú Tạ Minh đến đánh máy các tài liệu cho Ba, và bác Hoàng Chu cũng giúp viết bài về Diện Chẩn trên tờ báo Thông Tấn Xã Việt Nam.

Tôi và các em chưa tham gia gì, chỉ chạy chơi ra vô và nhìn các cô chú bác làm việc. Thỉnh thoảng nghe Ba giảng dạy Diện Chẩn cho các học viên mà chưa bữa nào ngồi trong lớp cho ra hồn, cứ loăng quăng chỗ này chỗ kia.

Tôi học Cấp 1 ở trường Mê Linh, sau đó cấp 2 ở trường Lê Quí Đôn, nhớ trong những năm cấp 2, hình như trong thời gian học lớp 7, 8 gì đó, một ngày nọ tôi đứng trước các đồ hình Ba treo trên tường, nhìn ngắm đồ hình Phản chiếu ngoại vi cơ thể trên mặt (đồ hình Âm Dương phản chiều Nam Nữ trên mặt) với sự nghịch ngợm của tuổi nhỏ, tôi bắt chước tư thế của hình người trên mặt, 2 tay dang ra, 2 chân đứng dạng ra, tôi đứng một hồi mỏi tay nên vươn tay lên, trong khoảnh khắc đó tôi lóe lên ý nghĩ về sự chuyển động của đồ hình… ý tưởng cứ để đó cho đến mãi sau này tôi mới kiểm chứng được giá trị trong thực tế của nó lúc tôi ra ngồi chữa bệnh (khoảng năm 2000, sau khi tốt nghiệp lớp Lương Y thừa kế khóa VIII của trường YHCT Tuệ Tĩnh II).

Sau đó nhân lúc cúp điện, nhà sử dụng đèn cầy, trong lúc nhìn ngắm ngọn lửa đèn cầy phản chiếu ánh của nó ra xung quanh từng đồ vật trong phòng, tôi nghĩ ra lý thuyết Ngọn đèn giữa phòng.

Khi tôi học lớp 10, Ba dạy cho tôi thở Âm Dương khí công. Bắt chước Ba, tôi có chữa thử cho chị Xuân (chị họ) bằng Âm Dương khí công rất hiệu quả, phất tay vài cái là chị hết sổ mũi ngay nhưng sau đó 1 giây tôi bị sổ mũi giống y như chị. Thấy lạ tôi vô hỏi Ba, Ba nói lý thuyết Bình thông nhau, và kêu tôi thở 3 đường Dương thì hết ngay.

Về sau tôi khám phá ra cách thở Âm Dương khí công lên đỉnh đầu rất hay.

Tôi học không giỏi, ngồi trong lớp hay tưởng tượng lung tung, và rất nhút nhát, rất ít nói chuyện với ai. Sau khi tốt nghiệp cấp 3 xong tôi thi vô trường Y và thi rớt. Học lớp dự bị Y. Lúc đó ông Bùi Chí Hiếu, giám đốc trường YHDT Tuệ Tĩnh II nói chuyện với Ba và nói sao không cho tôi qua học trường YHDT vì phù hợp hơn với Diện Chẩn, vốn cũng dựa 1 phần vô nền triết học phương Đông. Ba mới kéo qua học lớp lương y thừa kế VIII như tôi có nói ở trên.

Thời kỳ học Lương y rất thú vị, tôi cảm thấy thích hợp với những kiến thức về triết học, về con người. Thời gian đó tôi chế ra cây lăn cầu gai đôi nhỏ và cây lăn cầu gai đôi inox. Nghĩ ra Thập Cương (Hàn – Nhiệt, Hư – Thực, Biểu – Lý, Âm – Dương, Thượng – Hạ)

Sau đó bổ sung vô các quy luật âm dương, ngoài 4 cái đã học (Đối lập, Hỗ căn, Tiêu trưởng, Bình hoành) tôi thêm Âm Dương hấp dẫn, Âm Dương đồng bộ.

Sau khi tốt nghiệp Lương y thừa kế khóa VIII, tôi ra ngồi chữa bệnh, lần đầu rất run. Ca đầu tiên tôi chữa là đau thần kinh tọa, tôi dùng búa nhỏ gõ theo đồ hình chút xíu là bớt 70%, tôi mừng quá, điều đó tạo cảm hứng và sự tự tin cho tôi ngồi chữa bệnh những ngày tiếp sau đó.

Trong thời gian điêu trị cho đến nay,(từ năm 2000 đến năm 2015) đã đặt nền tảng cho tôi khám phá ra các cách chữa đơn giản và hiệu quả để góp phần vô sự nghiệp Diện Chẩn của Ba. Ví dụ: Bộ Thiên La Địa Võng Đầu – Mặt – Cổ, gần đây nhất là phương pháp tán sỏi – tán u Bùi Minh Tâm, hiệu quả tốt mà tốn thời gian rất ít, khoảng 1 phút mỗi ngày, v.v….

Năm 2003 lần đầu tiên đi Pháp với Ba, phụ tá Ba trong việc giảng dạy Diện Chẩn ở các nước Châu Âu (Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Thụy Sỹ, Canada, Nhật Bản,…). Đi ra xứ người mới thấy họ trân trọng phương pháp Diện Chẩn như thế nào, vì họ nhận ra rằng Diện Chẩn không những là 1 phát minh y học mới, mà còn là văn hóa giữa người với người, một con đường đi đến Chân – Thiện – Mỹ…

Gia đình tôi ở 19b Phạm Ngọc Thạch đến cuối năm 2008 thì chuyển qua 16 Ký Con, P.7, Q Phú Nhuận cho đến nay.

Vì thời gian gấp rút cho kịp Ngày lễ kỷ niệm 35 năm thành lập DC-ĐKLP, tôi vội viết ra vài dòng hồi ức trên đây, sau này có thời gian tôi sẽ viết chi tiết hơn nhất là về các chuyến đi phát triển Diện Chẩn ở xứ người.

10h sáng ngày 17/08/2015

Bùi Minh Tâm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

*

Translate »